fbpx

Educating Psyche – Tâm thức giáo dục

Educating Psyche by Bernie Neville is a book which looks at radical new approaches to learning, describing the effects of emotion, imagination and the unconscious on learning.
Tâm Thức Giáo Dục (Educating Psyche) của tác giả Bernie Neville là quyển sách đề cập các phương pháp tiếp cận mới, căn bản đến việc học, mô tả tác động của cảm xúc, sự tưởng tượng và vô thức đối với việc học.

One theory discussed in the book is that proposed by George Lozanov, which focuses on the power of suggestion.
Một học thuyết mà quyển sách bàn luận đến là học thuyết của George Lozanov, tập trung vào sức mạnh của sự gợi ý.

Lozanov’s instructional technique is based on the evidence that the connections made in the brain through unconscious processing (which he calls non-specific mental reactivity) are more durable than those made through conscious processing.
Phương pháp hướng dẫn của Lozanov dựa trên bằng chứng cho thấy mối liên kết hình thành trong não thông qua quá trình vô thức (mà ông gọi là sự phản xạ tinh thần không cụ thể) kéo dài lâu hơn mối liên kết hình thành thông qua quá trình nhận thức.

Besides the laboratory evidence for this, we know from our experience that we often remember what we have perceived peripherally, long after we have forgotten what we set out to learn.
Bên cạnh bằng chứng trong phòng thí nghiệm cho nhận định này, chúng ta cũng nhận biết từ kinh nghiệm riêng của bản thân rằng chúng ta thường vẫn nhớ những điều mà mình nhận thức một cách ngoại biên trong một thời gian dài sau khi đã quên mất thứ mình học theo chủ đích.

If we think of a book we studied months or years ago, we will find it easier to recall peripheral details – the colour, the binding, the typeface, the table at the library where we sat while studying it – than the content on which we were concentrating.
Nếu chúng ta nghĩ về quyển sách đã học cách đây hàng tháng hay hàng năm, chúng ta sẽ dễ nhớ những chi tiết ngoại vi – màu sắc, bìa sách, kiểu chữ, chiếc bàn trong thư viện nơi ngồi đọc – hơn là nội dung sách mà chúng ta từng tập trung vào.

If we think of a lecture we listened to with great concentration, we will recall the lecturer’s appearance and mannerisms, our place in the auditorium, the failure of the air-conditioning, much more easily than the ideas we went to learn.
Nếu chúng ta nghĩ về một bài giảng mà mình đã chăm chú lắng nghe, chúng ta sẽ nhớ lại vẻ ngoài và điệu bộ của diễn giả, chỗ ngồi của mình trong khán phòng, hệ thống điều hòa không tốt, dễ dàng hơn rất nhiều so với những ý tưởng mà chúng ta đến để tiếp thu.

Even if these peripheral details are a bit elusive, they come back readily in hypnosis or when we relive the event imaginatively, as in psychodrama.
Ngay cả khi những chi tiết bên lề này có vẻ hơi khó nắm bắt thì chúng vẫn trở lại rõ ràng trong quá trình thôi miên hay khi chúng ta dùng trí tưởng tượng để nhớ lại sự kiện, như trong liệu pháp tâm kịch.

The details of the content of the lecture, on the other hand, seem to have gone forever.
Mặt khác, chi tiết về nội dung của bài giảng dường như đã trôi đi mãi mãi.

This phenomenon can be partly attributed to the common counterproductive approach to study (making extreme efforts to memorise, tensing muscles, inducing fatigue), but it also simply reflects the way the brain functions.
Hiện tượng này có thể phần nào được gán cho cách tiếp cận thông thường, phản tác dụng đến việc học (nỗ lực hết sức mình để ghi nhớ, căng cơ và đưa đến sự mệt mỏi) nhưng nó cũng đơn thuần phản ảnh cách thức hoạt động của não bộ.

Lozanov therefore made indirect instruction (suggestion) central to his teaching system.
Vậy nên Lozanov đã biến sự hướng dẫn gián tiếp (sự gợi ý) trở thành tâm điểm trong hệ thống giảng dạy của ông.

In suggestopedia, as he called his method, consciousness is shifted away from the curriculum to focus on something peripheral.
Trong suggestopedia, tên gọi mà ông đặt cho phương pháp của mình, sự nhận thức tỉnh táo được loại ra khỏi chương trình giảng dạy để tập trung vào điều gì đó mang tính ngoại biên.

The curriculum then becomes peripheral and is dealt with by the reserve capacity of the brain.
Khi đó chương trình học sẽ mang tính ngoại biên và được xử lý bởi dung lượng dự trữ của não bộ. 

The suggestopedic approach to foreign language learning provides a good illustration.
Một minh họa cụ thể là việc áp dụng cách tiếp cận trên vào việc học ngoại ngữ.

In its most recent variant (1980), it consists of the reading of vocabulary and text while the class is listening to music.
Trong biến thể gần đây nhất (1980), nó bao gồm việc đọc từ vựng, bài văn trong khi cả lớp cùng nghe nhạc.

The first session is in two parts.
Khóa học đầu tiên được chia thành hai phần.

In the first part, the music is classical (Mozart, Beethoven, Brahms) and the teacher reads the text slowly and solemnly, with attention to the dynamics of the music.
Ở phần một, âm nhạc được chọn là nhạc cổ điển (Mozart, Beethoven, Brahms) và giáo viên đọc bài văn một cách chậm rãi, nghiêm trang, chú ý đến cường độ của bản nhạc.

The students follow the text in their books.
Học sinh theo dõi bài đọc trong sách của mình.

This is followed by several minutes of silence.
Tiếp theo đó là một vài phút im lặng.

In the second part, they listen to baroque music (Bach, Corelli, Handel) while the teacher reads the text in a normal speaking voice.
Ở phần hai, họ nghe nhạc theo phong cách baroque (Bach, Corelli, Handel) trong khi giáo viên đọc bài với giọng bình thường.

During this time they have their books closed.
Lần này học sinh sẽ đóng sách lại.

During the whole of this session, their attention is passive; they listen to the music but make no attempt to learn the material.
Trong suốt buổi học, sự chú ý của học sinh mang tính thụ động; họ nghe nhạc nhưng hoàn toàn không cố gắng học bài đọc.

Beforehand, the students have been carefully prepared for the language learning experience.
Trước đó, học sinh đã được chuẩn bị kỹ càng về kinh nghiệm học ngôn ngữ.

Through meeting with the staff and satisfied students they develop the expectation that learning will be easy and pleasant and that they will successfully learn several hundred words of the foreign language during the class.
Thông qua việc gặp gỡ nhân viên và những học sinh cảm thấy hài lòng, họ dựng nên sự mong đợi rằng việc học sẽ dễ dàng, vui vẻ và trong suốt buổi họ sẽ học được vài trăm từ của một ngoại ngữ.

In a preliminary talk, the i teacher introduces them to the material to be covered, but does not ‘teach’ it.
Trong bài mở đầu, giáo viên sẽ giới thiệu tài liệu sắp học, nhưng không dạy đến nó.

Likewise, the students are instructed not to try to learn it during this introduction.
Tương tự như vậy, học sinh cũng được hướng dẫn không cố gắng học nó trong suốt phần dẫn nhập này.

Some hours after the two-part session, there is a follow-up class at which the students are stimulated to recall the material presented.
Vài tiếng sau buổi học hai phần sẽ là một lớp học tiếp nối, nơi mà học sinh được khuyến khích gợi nhớ lại tài liệu đã học.

Once again the approach is indirect.
Một lần nữa, cách tiếp cận mang tính gián tiếp.

The students do not focus their attention on trying to remember the vocabulary, but focus on using the language to communicate (e.g. through games or improvised dramatisations).
Học sinh không tập trung vào việc cố gắng nhớ lại từ vựng mà chú ý vào việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp (thông qua trò chơi hay đóng kịch ứng biến).

Such methods are not unusual in language teaching.
Những phương pháp này khá phổ biến trong việc giảng dạy ngôn ngữ.

What is distinctive in the suggestopedic method is that they are devoted entirely to assisting recall.
Điều khác biệt trong phương pháp suggestopedia là chúng tập trung hoàn toàn vào việc hỗ trợ quá trình gợi nhớ lại.

The ‘learning’ of the material is assumed to be automatic and effortless, accomplished while listening to music.
Việc học tài liệu được xem như tự động và không cần nỗ lực gì, đạt được trong khi nghe nhạc.

The teacher’s task is to assist the students to apply what they have learned paraconsciously, and in doing so to make it easily accessible to consciousness.
Nhiệm vụ của giáo viên là hỗ trợ học sinh ứng dụng những điều mà họ đã học một cách tiềm thức, và nhờ đó dễ tiếp cận hơn đến sự nhận thức.

Another difference from conventional teaching is the evidence that students can regularly learn 1000 new words of a foreign language during a suggestopedic session, as well as grammar and idiom.
Một khác biệt nữa so với cách dạy thông thường là bằng chứng cho thấy học sinh thường có thể học được 1000 từ mới cũng như ngữ pháp và thành ngữ của một ngoại ngữ trong suốt khóa học theo phương pháp suggestopedia.

Lozanov experimented with teaching by direct suggestion during sleep, hypnosis and trance states, but found such procedures unnecessary.
Lozanov đã tiến hành thí nghiệm giảng dạy bằng sự gợi ý trực tiếp trong khi ngủ, thôi miên hay trạng thái mê man nhưng phát hiện ra những quy trình này là không cần thiết.

Hypnosis, yoga, Silva mind-control, religious ceremonies and faith healing are all associated with successful suggestion, but none of their techniques seem to be essential to it.
Thôi miên, yoga, phương pháp kiểm soát tinh thần Silva, nghi thức tôn giáo và chữa trị bằng đức tin đều liên quan đến sự gợi ý thành công nhưng không có phương pháp nào trong đó dường như cần thiết.

Such rituals may be seen as placebos.
Những nghi thức như vậy có thể xem như là liều thuốc trấn an.

Lozanov acknowledges that the ritual surrounding suggestion in his own system is also a placebo, but maintains that without such a placebo people are unable or afraid to tap the reserve capacity of their brains.
Lozanov thừa nhận rằng nghi thức bao quanh sự gợi ý trong hệ thống của ông cũng là một liều thuốc trấn an, nhưng giữ quan điểm rằng không có liều thuốc như vậy, con người sẽ không thể hoặc sợ chạm đến phần dung lượng dự trữ trong não bộ.

Like any placebo, it must be dispensed with authority to be effective.
Như bất kỳ thứ thuốc trấn an nào, nó phải được chuyên gia tiến hành để đạt hiệu quả.

Just as a doctor calls on the full power of autocratic suggestion by insisting that the patient take precisely this white capsule precisely three times a day before meals, Lozanov is categoric in insisting that the suggestopedic session be conducted exactly in the manner designated, by trained and accredited suggestopedic teachers.
Cũng như một bác sĩ vịn đến sức mạnh của sự gợi ý mang tính chuyên quyền bằng cách quả quyết rằng bệnh nhân phải uống viên nhộng màu trắng này đúng ba lần một ngày trước mỗi bữa ăn, Lozanov nhất quyết rằng khóa học theo phương pháp suggestopedia phải được tiến hành chính xác theo cách thức đã định và do giáo viên đã qua đào tạo, được công nhận về phương pháp này giảng dạy.

While suggestopedia has gained some notoriety through success in the teaching of modern languages, few teachers are able to emulate the spectacular results of Lozanov and his associates.
Trong khi phương pháp suggestopedia đã gây được một số sự chú ý nhờ vào thành công trong việc giảng dạy ngôn ngữ hiện đại thì rất ít giáo viên có thể đạt được kết quả ngoạn mục như Lozanov và các đồng sự.

We can, perhaps, attribute mediocre results to an inadequate placebo effect.
Chúng ta có thể quy kết quả xoàng xĩnh đó cho việc chưa có đủ tác dụng trấn an.

The students have not developed the appropriate mind set.
Học sinh chưa phát triển mô thức tâm lý phù hợp.

They are often not motivated to learn through this method.
Học sinh thường không tìm thấy động lực để học thông qua phương pháp này.

They do not have enough ‘faith’.
Họ không có đủ đức tin.

They do not see it as ‘real teaching’, especially as it does not seem to involve the ‘work’ they have learned to believe is essential to learning.
Họ không xem nó như là việc giảng dạy thực sự, đặc biệt là khi có vẻ nó không bao gồm công việc mà họ đã tin là cần thiết để học tập.

 

Từ vựng trong bài

made through: thực hiện thông qua 

set out to learn: cố ý học 

learned paraconsciouslyhọc một cách vô thức 

shifted away: chuyển khỏi 

making extreme efforts: cố gắng hết sức 

on the other hand: mặt khác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

X